Home » Cách làm bài tập lớn Điểm cao » Phân tích học thuyết về nhu cầu và động cơ hoạt động của con người

Phân tích học thuyết về nhu cầu và động cơ hoạt động của con người

Phân tích học thuyết về nhu cầu và động cơ hoạt động của con người. Phân tích ưu, nhược điểm và cách áp dụng học thuyết quản trị đó trong thực tiễn Quản trị

Phân tích học thuyết về nhu cầu và động cơ hoạt động của con người

Nhu cầu và động cơ mỗi con người trong quản trị sẽ chi phối họ trong quá trình hoạt động. Có người đặt cho mình một mục tiêu nhu cầu quá lớn vượt quá khả năng của họ và do đó sẽ phải xâm lấn, chiếm đoạt lợi ích của người khác. Có người hoạt động vì động cơ ích kỷ; cái nó, cái tôi của họ lấn át cái siêu tôi và vì thế họ trở thành độc ác, tàn bạo, chà đạp đồng loại để đạt mục tiêu xấu xa của mình v.v… Tất cả những điều trên phải được các nhà lãnh đạo lưu tâm để xử lý, bảo đảm duy trì sự công bằng của việc phát triển; đồng thời vẫn phải tạo đủ động lực cho tổ chức đi lên.

Nhận Làm Thuê Bài Tập Lớn Giá Rẻ uy tín
sdt/ ZALO 093 189 2701

* Học thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow

Theo A. Maslow (1908 – 1970 – nhà tâm lý học người Mỹ), nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến cao nhất. Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa.

  • – Nhu cầu sinh lý (vật chất) là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người (thức ăn, đồ mặc, nước uống, nhà ở…). A. Maslow quan niệm rằng khi những nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được mọi người.
  • – Nhu cầu về an toàn: là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe dọa mất việc, mất tài sản.
  • – Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận.
  • – Nhu cầu được tôn trọng: theo A.Maslow, khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng. Nhu cầu loại này dẫn tới những sự thỏa mãn như quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin.
  • – Nhu cầu tự hoàn thiện: A.Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt tới. Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành được một mục tiêu nào đó.

Như vậy, theo lý thuyết này, thì trước tiên các nhà lãnh đạo phải quan tâm đến các nhu cầu vật chất, trên cơ sở đó mà nâng dần lên các nhu cầu bậc cao.

d. Học thuyết về động cơ của F.Herzberg

Frederick Herzberg chia động cơ thành hai nhóm:

  • – Nhóm 1 gồm những yếu tố có thể định lượng (lương thưởng, điều kiện lao động…) làm cho con người hài lòng, thỏa mãn, được gọi là những yếu tố “duy trì”. Đây là yếu tố nhất thiết cần phải có, nếu không sẽ nảy sinh sự bất bình thường, bất mãn, sự không vừa lòng. Nhưng những yếu tố này không được coi là động lực thúc đẩy.
  • – Nhóm 2 gồm những yếu tố định tính (trách nhiệm, sự thành đạt, được công nhận…). Đây là những yếu tố có liên quan đến công việc. Theo F. Herzberg, những yếu tố này mới được coi là những động lực thúc đẩy.

Như vậy, các nhà quản trị phải không ngừng phải đảm bảo các yếu tố duy trì, đồng thời còn phải chú ý nhiều tới việc nâng cao sự thoả mãn về công việc. Phân tích học thuyết về nhu cầu và động cơ hoạt động của con người

e. Học thuyết động cơ Vitor. H. Room

V. Room đưa ra công thức:

Sức mạnh = Mức ham mê x Niềm hi vọng

Trong đó:

  • – Sức mạnh là cường độ thúc đẩy con người.
  • – Mức ham mê là cường độ ưu ái của một người giành cho kết quả.
  • – Niềm hi vọng là xác suất mà một hoạt động riêng lẻ sẽ dẫn tới kết quả mong muốn.

Khi một người thờ ơ với việc đạt tới một mục tiêu nhất định thì mức ham mê coi như bằng 0. Và sẽ có một mức ham mê âm khi con người phản đối việc đạt tới mục tiêu đó. Tất nhiên, kết quả của cả hai trường hợp đều không có động cơ thúc đẩy. Cũng như vậy, một người có thể không có động cơ thúc đẩy nào để đạt tới mục tiêu nếu niềm hi vọng là số 0 hoặc số âm. Sức mạnh dùng để làm một việc nào đó sẽ phụ thuộc vào cả mức ham mê và niềm hi vọng. Ví dụ, một kỹ sư sẵn sàng làm việc ngày đêm với sự say mê nghiên cứu, sự ham mê được sáng tạo trong khoa học, và với hi vọng được thăng chức tăng lương. Như vậy, để tạo động cơ lớn nhất, nhà quản trị phải tác động lên cả 2 yếu tố thúc đẩy trên sự ham mê và niềm hi vọng.

g. Học thuyết và động cơ của David. CMc. Celland

Mc Celland phân ra ba loại nhu cầu thúc đẩy cơ bản:

  • – Nhu cầu về quyền lực: Những người có nhu cầu cao về quyền lực sẽ quan tâm nhiều tới việc tạo ra sự ảnh hưởng và kiểm tra. Và nói chung họ theo đuổi địa vị lãnh đạo.
  • – Nhu cầu liên kết: Những người có nhu cầu cao về liên kết thường cố gắng duy trì mối quan hệ xã hội dễ chịu, muốn có tình cảm thân thiết và cảm thông, muốn quan hệ qua lại thân mật với những người khác.
  • – Nhu cầu về sự thành đạt: Những người có nhu cầu cao về sự thành đạt thường có mong muốn mạnh mẽ về sự thành công và cũng sợ bị thất bại. Họ muốn được thử thách, đề ra cho mình những mục tiêu không dễ, hay phân tích và đánh giá một vấn đề chứ không mạo hiểm, chịu trách nhiệm cá nhân, muốn tự điều khiển các công việc riêng của mình, quan tâm đến kết quả công việc mà họ đang làm. Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, thì các nhà lãnh đạo, tức là những người lập ra, phát triển một tổ chức thường tỏ ra có nhu cầu rất cao về quyền lực, khá cao về sự thành đạt, nhưng lại rất thấp về sự liên kết. Còn những người lao động thì thường có nhu cầu cao về sự liên kết. Vì vậy, các nhà lãnh đạo, ngoài việc cố gắng thỏa mãn những nhu cầu vật chất của người lao động, cần tạo ra một bầu không khí tâm lý dễ chịu đoàn kết thân ái để mọi người có thể làm việc tốt với nhau, phối hợp ăn ý với nhau trong các nhóm và trong tổ chức. Phân tích học thuyết về nhu cầu và động cơ hoạt động của con người

h. Học thuyết của Arch Patton về các động cơ trong quản lý

A. Patton cho rằng, những động lực thúc đẩy đặc biệt quan trọng trong việc điều hành là:

    • – Sự thử thách trong công việc: Động lực này xuất phát từ nhu cầu tự khẳng định mình, nhu cầu về sự tôn trọng.
    • – Địa vị, chức vụ, sự thăng chức, sự mong muốn trở thành người lãnh đạo…
    • – Sự ganh đua.
    • – Sự sợ hãi (sợ mắc sai lầm, sợ mất việc, sợ giảm tiền thưởng…).
    • – Tiền là một yếu tố khuyến khích thực sự và thúc đẩy hiệu quả, chứ không còn là một yếu tố “duy trì” như F. Herzberg đã nêu ở trên.

i. Học thuyết E.R.G

Clayton Alderfer giáo sư Đại học Yale đã tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của A. Maslow và đưa ra kết luận của mình. Ông cho rằng: Hành động của con người bắt nguồn từ nhu cầu – cũng giống như các nhà nghiên cứu khác – song ông cho rằng con người cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển.

    • Nhu cầu tồn tại (Existence needs) bao gồm những đòi hỏi vật chất tốt, cần thiết cho sự tồn tại của con người. Nhóm nhu cầu này có nội dung giống như nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn của A. Maslow.
    • Nhu cầu quan hệ (Relatedness needs) là những đòi hỏi về quan hệ tương tác qua lại giữa các cá nhân. Nhu cầu quan hệ bao gồm nhu cầu xã hội và một phần nhu cầu tự trọng (được tôn trọng).
    • Nhu cầu phát triển (Growth needs) là đòi hỏi bên trong của mỗi con người cho sự phát triển cá nhân, nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và một nhu cầu tự trọng (tự trọng và tôn trọng người khác).

Điều khác biệt ở học thuyết này là C. Alderfer cho rằng con người cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn tất cả các nhu cầu chứ không phải một nhu cầu như quan điểm A. Maslow. Hơn nữa, thuyết này còn cho rằng khi một nhu cầu nào đó bị cản trở và không được thỏa mãn thì con người có xu hướng dồn nỗ lực của mình sang thỏa mãn các nhu cầu khác. Tức là nếu nhu cầu tồn tại bị cản trở, con người sẽ dồn nỗ lực của mình sang việc theo đuổi nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển. Điều này giải thích khi cuộc sống khó khăn con người có xu hướng gắn bó với nhau hơn, quan hệ giữa họ tốt hơn và họ dồn nỗ lực đầu tư cho tương lai nhiều hơn. Phân tích học thuyết về nhu cầu và động cơ hoạt động của con người

k. Học thuyết mong đợi

Học thuyết mong đợi cho rằng động cơ là kết quả của những mong đợi của một cá nhân. Động cơ của con người phụ thuộc vào hai nhân tố:

    • – Mức độ mong muốn thực sự của cá nhân đối với việc giải quyết công việc.
    • – Cá nhân đó nghĩ về công việc như thế nào và sẽ đạt đến nó như thế nào.

Vì thế, để động viên con người, người lãnh đạo cần quan tâm đến nhận thức và mong đợi của cá nhân về các mặt:

    • – Tình thế
    • – Các phần thưởng
    • – Sự dễ dàng thực hiện theo cách mà sẽ đạt đến phần thưởng
    • – Sự bảo đảm là phần thưởng được trả.

Học thuyết mong đợi đòi hỏi nhà lãnh đạo phải hiểu biết những mong đợi của con người trong tổ chức và gắn những mong đợi này với những mục tiêu của tổ chức. Muốn vậy người lãnh đạo cần:

    • – Tạo ra các kết cục mà con người trong tổ chức mong muốn
    • – Tạo ra sự cần thiết thực hiện để đạt mục tiêu của tổ chức
    • – Bảo đảm mức độ thực hiện mong muốn là có thể đạt tới
    • – Gắn chặt kết quả mong đợi với việc thực hiện cần thiết
    • – Đánh giá tình thế đối với những mong đợi khác nhau
    • – Bảo đảm phần thưởng là đủ sức hấp dẫn cần thiết
    • – Bảo đảm tổ chức là công bằng đối với tất cả mọi người.
    • Phân tích học thuyết về nhu cầu và động cơ hoạt động của con người

k. Học thuyết về sự công bằng

Con người trong hệ thống muốn được đối xử một cách công bằng, họ có xu hướng so sánh những đóng góp và phần thưởng của bản thân với những người khác. Khi so sánh, đánh giá có thể có ba trường hợp xảy ra:

    • – Nếu con người cho rằng họ được đối xử không tốt, phần thưởng là không xứng đáng với công sức họ đã bỏ ra làm cho họ bất mãn và từ đó họ sẽ làm việc không hết khả năng và thậm chí họ sẽ bỏ việc.
    • – Nếu con người tin rằng họ được đối xử đúng, phần thưởng và đãi ngộ là tương xứng với công sức của họ đã bỏ ra thì họ sẽ duy trì mức năng suất như cũ.
    • – Nếu con người nhận thức rằng phần thưởng và đãi ngộ là cao hơn so với điều mà họ mong muốn, họ sẽ làm việc tích cực hơn, chăm chỉ hơn. Song trong trường hợp này, họ có xu hướng giảm giá trị của phần thưởng.

Một điều khó khăn là con người thường có xu hướng đánh giá cao cống hiến của mình và đánh giá cao phần thưởng mà người khác nhận được.
Khi đối mặt với sự không công bằng con người thường có xu hướng chấp nhận, chịu đựng hoặc chống đối. Song nếu họ phải đối mặt với sự không công bằng lâu dài thì họ sẽ bỏ việc. Do đặc điểm này, người lãnh đạo phải luôn luôn quan tâm tới nhận thức của con người trong tổ chức về sự công bằng, không thể để xuất hiện các bất công trong tổ chức.

Dịch vụ Làm thuê bài tập lớn Giá rẻ

Dịch vụ Làm thuê bài tập lớn Giá rẻ tại TpHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, Đà lạt, Đà Nẵng, Quảng Nam, Thái Nguyên, Hà Nội,v..v..

sdt/ Zalo 093 189 2701

Với chia sẻ này hy vọng giúp các bạn sinh viên có thể hiểu hơn và Phân tích học thuyết về nhu cầu và động cơ hoạt động của con người

(Nguồn bài viết: vietthuewriter.com)

Các bạn Comment để lại ZALO bên dưới để Trung tâm gửi tài liệu nha

Liên hệ ZALO 093 189 2701

hoặc quét mã QR của ZALO sau:

, , , , , , ,

Comments

    1. admin viết:

      Cảm ơn bạn nha. bạn có thể xem thêm các lý thuyết hoặc bài mẫu báo cáo thực tập ngành quản trị kinh doanh tại website nha

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*

Quảng cáo